Thầy là ánh sáng thế gian (31.3.2019 – Chúa Nhật 4 Mùa Chay, Năm C)
Lời Chúa: Ga 9, 1-41
Khi
ấy Ðức Giêsu nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. Các môn đệ hỏi Người: “Thưa
Thầy, ai đã phạm tội khiến người này mới sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ
anh ta?” Ðức Giêsu trả lời: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta
đã phạm tội. Nhưng chuyện đó xảy ra là để các việc của Thiên Chúa được tỏ hiện
nơi anh. Chúng ta phải làm những việc của Ðấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng;
đêm đến, không ai có thể làm việc được. Bao lâu, Thầy còn ở thế gian, Thầy là
ánh sáng thế gian.”
Nói
xong, Ðức Giêsu nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người
mù, rồi bảo anh ta: “Anh hãy đến hồ Xilôác mà rửa” (Xilôác có nghĩa là: người
được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được. Các
người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói: “Hắn
không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao?” Có người nói: “Chính hắn đó!” Kẻ
khác lại rằng: “Không phải đâu! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi!” Còn
anh ta thì quả quyết: “Chính tôi đây!” Người ta liền hỏi anh: “Vậy, làm sao mắt
anh lại mở ra được như thế?” Anh ta trả lời: “Người tên là Giêsu đã trộn một
chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo: “Anh hãy đến hồ Xilôác mà rửa. Tôi đã đi,
và sau khi rửa tôi nhìn thấy được.” Họ lại hỏi anh: “Ông ấy ở đâu?” Anh ta đáp:
“Tôi không biết.” Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pharisêu. Nhưng
ngày Ðức Giêsu trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sabát.
Vậy, các người Pharisêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh
trả lời: “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy.”
Trong
nhóm Pharisêu, người thì nói: “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được,
vì không giữ ngày sabát”; kẻ thì bảo: “Một người tội lỗi sao có thể làm được
những dấu lạ như vậy?” Thế là họ đâm ra chia rẽ. Họ lại hỏi người mù: “Còn anh,
anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh?” Anh đáp: “Người là một vị ngôn sứ!” Người
Do thái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên gọi cha mẹ
anh ta đến. Họ hỏi: “Anh này có phải là con ông bà không?” Ông bà nói là anh bị
mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được?” Cha mẹ anh đáp: “Chúng
tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. Còn bây giờ làm sao nó
thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng
chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó; nó đã khôn lớn rồi, tự nó nó nói về mình
được.” Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do thái. Thật vậy, người Do thái đã đồng
lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Ðức Giêsu là Ðấng Kitô. Vì
thế, cha mẹ anh mới nói: “Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó.”
Một
lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo: “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa.
Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi.” Anh ta đáp: “Ông ấy có
phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều: trước
đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được!” Họ mới nói với anh: “Ông ấy đã làm gì
cho anh? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào?” Anh trả lời: “Tôi đã nói với các
ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại
chuyện đó nữa? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng?” Họ liền mắng
nhiếc anh: “Có mày mới là môn đệ ông ấy; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của
ông Môsê. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Môsê; nhưng chúng ta
không biết ông ấy bởi đâu mà đến.” Anh đáp: “Kể cũng lạ thật! Các ông không
biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt cho tôi! Chúng
ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa
và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có
ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên
Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.” Họ đối lại: “Mày sinh ra tội lỗi
ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?” Rồi họ trục xuất anh.
Ðức
Giêsu nghe nói họ đã trục xuất anh, và khi gặp lại anh, Người hỏi: “Anh có tin
vào Con Người không?” Anh đáp: “Thưa Ngài, Ðấng ấy là ai để tôi tin?” Ðức Giêsu
trả lời: “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh.” Anh nói: “Thưa
Ngài, tôi tin.” Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người. Ðức Giêsu nói: “Tôi đến
thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem
thấy lại trở nên đui mù!” Những người Pharisêu đang ở đó với Ðức Giêsu nghe
vậy, liền lên tiếng: “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?” Ðức Giêsu bảo
họ: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói
rằng: ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn!”
Suy niệm:
Ðức Giêsu đã chữa một người mù từ lúc mới sinh,
một người lớn lên trong
bóng đêm dầy đặc.
Ngài cho anh được thấy
ánh mặt trời lần đầu tiên,
thấy khuôn mặt của những
người thân thuộc.
Nhưng quan trọng hơn,
anh đã thấy và tin vào Ðức Giêsu,
Ðấng là Ánh Sáng của thế
giới.
Sau khi được sáng mắt,
anh đã bước vào một cuộc
hành trình đức tin đầy cam go.
Lúc đầu, Ðức Giêsu chỉ
là một người mà anh không rõ.
Sau đó, anh dám khẳng định
trước mặt mọi người
Ngài là một ngôn sứ, là
người bởi Thiên Chúa mà đến.
Cuối cùng, anh đã sấp
mình để bày tỏ lòng tin vào Ngài.
Ðức tin của anh lớn lên
qua những hiểm nguy và đe dọa.
Ngược với thái độ hồn nhiên và bình an của anh
là thái độ bối rối bất
an của giới lãnh đạo.
Họ cứ hỏi đi hỏi lại về
cách thức anh được chữa lành.
Cha mẹ của anh cũng được
điều tra cẩn thận.
Trước những lập luận
vững vàng của anh,
họ chỉ biết chê anh là
dốt nát và tội lỗi.
Dựa vào một quan niệm
hẹp hòi về việc giữ ngày sa bát,
họ khẳng định Ðức Giêsu
đã phạm tội khi chữa bệnh,
tuy họ vẫn không hiểu
tại sao một người tội lỗi
lại có thể mở mắt cho
người mù từ lúc mới sinh.
Giới lãnh đạo Do Thái
giáo không muốn coi Ðức Giêsu
là người của Thiên Chúa,
vì điều đó đòi họ phải
thay đổi lối nghĩ và lối sống đạo,
thay đổi bộ mặt tôn giáo
của cha ông,
nhất là đòi họ phải tin
và theo Ngài.
Họ tự hào mình hiểu biết và đạo đức.
Chính niềm tự hào này đã
khiến họ khép lại,
không có can đảm chấp
nhận mình sai lầm,
và cố chấp ở lại trong
bóng tối.
Mù không phải là một tội.
Cố ý không muốn thấy mới
là tội đáng kể.
Chúng ta ai cũng sợ bị
mù,
nhưng lắm khi ta lại tự
làm cho mình nên mù lòa,
khi không chấp nhận thực
tế về bản thân,
khi né tránh sự thật và
không muốn nghe ai.
Như những người mù xem voi,
mỗi người chúng ta chỉ
thấy một phần của thực tại,
một phần nhỏ của chân
lý.
Cần khiêm tốn để nhận
mình mù,
mù về chính mình, mù về
lãnh vực mình thông thạo,
vì điều mình biết chỉ là
phần nổi của tảng băng,
vì con voi không giống
như cái cột nhà hay cái quạt.
Thay vì cãi nhau do có
cái nhìn khác nhau,
chúng ta có thể bổ túc
cho nhau,
để dần dần đến gần chân
lý trọn vẹn.
Cầu nguyện:
Như
thánh Phaolô trên đường về Đamát,
xin cho con trở nên mù
lòa
vì ánh sáng chói chang
của Chúa,
để nhờ biết mình mù lòa
mà con được sáng mắt.
Xin
cho con đừng sợ ánh sáng của Chúa,
ánh sáng phá tan bóng
tối trong con
và đòi buộc con phải
hoán cải.
Xin
cho con đừng cố chấp ở lại trong bóng tối
chỉ vì chút tự ái cỏn
con.
Xin
cho con khiêm tốn
để đón nhận những tia
sáng nhỏ
mà Chúa vẫn gửi đến cho
con mỗi ngày.
Cuối
cùng, xin cho con hết lòng tìm kiếm Chân lý
để Chân lý cho con được
tự do.
Lm. Antôn Nguyễn
Cao Siêu, S.J.